Thép cán nóng và cán nguội khác nhau thế nào? Quy trình, độ dày, cơ tính và cách phân biệt

Cùng một tấm thép dày 2 mm, báo giá cán nguội cao hơn hẳn cán nóng, thợ lại bảo làm vỏ tủ điện thì phải dùng cán nguội, làm bản mã thì cán nóng mới đúng. Thép cán nóng và cán nguội khác nhau ngay từ nhiệt độ lúc cán, và khác biệt đó kéo theo độ dày, bề mặt, độ chính xác, độ cứng lẫn giá. Bài này đi lần lượt từng loại, đặt chúng cạnh nhau trong một bảng, rồi chỉ cách nhìn hàng là biết loại nào, kèm hai chỗ hay bị gọi nhầm khiến người mua trả tiền sai món.

So sánh thép cán nóng và cán nguội: độ dày, bề mặt, mác thép
Những điểm khác nhau chính giữa thép cán nóng và cán nguội

1. Thép cán nóng là gì

Thép cán nóng là thép được cán khi phôi còn nóng đỏ, trên nhiệt độ kết tinh lại (khoảng 900 độ C trở lên). Ở nhiệt độ này thép dẻo, hạt tinh thể kết tinh lại ngay trong lúc cán nên không bị cứng thêm, ép mỏng được nhiều mà ít tốn lực. Sản phẩm dạng cuộn gọi là HRC (hot rolled coil).

Đặc điểm

  • Bề mặt phủ lớp vảy ô xít xanh đen, sờ hơi nhám.
  • Khi nguội thép co lại một chút, nên dung sai chiều dày và độ phẳng rộng hơn cán nguội.
  • Dải độ dày rộng: cuộn trong nước từ 1,2 mm, tấm cán dày tới vài chục mm.
  • Giữ độ dẻo, chịu va đập tốt, dễ hàn với các mác kết cấu như SS400, A36, Q235B.

Dùng để làm gì

Thép tấm làm bản mã, bản đế, dầm tổ hợp, sàn thao tác, thùng xe, bồn bể. Thép hình H, I, U, V, thép thanh xây dựng. Cuộn HRC còn là nguyên liệu để xả băng làm ống, hộp đen và là đầu vào của dây chuyền cán nguội. Quy cách và cơ tính tấm cán nóng có ở trang giá thép tấm cán nóng SS400.

2. Thép cán nguội là gì

Thép cán nguội là thép cuộn cán nóng được tẩy vảy bằng axit rồi cán tiếp nhiều lượt ở nhiệt độ thường để mỏng hơn. Sản phẩm dạng cuộn gọi là CRC (cold rolled coil). Mác hay gặp theo JIS G3141 là SPCC (thương mại), SPCD (dập), SPCE (dập sâu).

Đặc điểm

  • Bề mặt xám sáng, mịn, có lớp dầu chống gỉ.
  • Mỏng, thường từ vài phần mười mm đến khoảng 3 mm, dung sai chiều dày chặt, tấm phẳng.
  • Không có vảy che nên gỉ rất nhanh khi gặp ẩm, phải để kho khô, bọc kín.
  • Giá theo kg cao hơn cán nóng vì thêm công đoạn.

Dùng để làm gì

Vỏ tủ điện, tủ hồ sơ, bàn ghế văn phòng, vỏ máy giặt, tủ lạnh, chi tiết dập cho xe máy, ô tô, và làm nền để mạ tôn. Cách đọc ký hiệu SPCC-SD, SPCC-1B có ở bài ký hiệu SPCC-SD, SPCC-1B.

3. Quy trình sản xuất thép cán nóng và cán nguội

Cán nóng: phôi phiến (cho tấm, cuộn) hoặc phôi vuông (cho thép thanh) được nung lại, cán thô, cán tinh qua nhiều giá cán khi còn nóng, làm nguội rồi cuộn hoặc cắt. Các bước từ quặng tới phôi có ở bài quy trình luyện và cán thép.

Cán nguội: nhận cuộn cán nóng rồi đi tiếp bốn bước:

  1. Tẩy vảy ô xít bằng axit.
  2. Cán nhiều lượt ở nhiệt độ thường để giảm chiều dày. Sau bước này thép rất cứng, gọi là full hard.
  3. Ủ trong lò khí bảo vệ cho mềm lại (với hàng dùng để dập, chấn).
  4. Cán là nhẹ để phẳng và tạo bề mặt mờ hoặc bóng, phủ dầu, cắt tấm hoặc để cuộn.

Thép cán nguội luôn đi qua cán nóng trước, cộng thêm các bước trên. Đó là lý do cùng mác thép thường, cán nguội đắt hơn.

4. Thép cán nóng và cán nguội khác nhau như thế nào

Tiêu chí Thép cán nóng Thép cán nguội
Nhiệt độ cán Trên nhiệt độ kết tinh lại, thép nóng đỏ Nhiệt độ thường
Nguyên liệu Phôi phiến, phôi vuông Cuộn cán nóng đã tẩy gỉ
Độ dày thông dụng Cuộn từ 1,2 mm, tấm đến vài chục mm Vài phần mười mm đến khoảng 3 mm
Bề mặt Vảy cán xanh đen, hơi nhám Xám sáng, mịn, có dầu
Dung sai, độ phẳng Rộng hơn Chặt, phẳng hơn
Mép cuộn Mép cán hơi tròn nếu không xén biên Thường xén biên thẳng
Mác JIS hay gặp SPHC (JIS G3131), SS400 (JIS G3101) SPCC, SPCD, SPCE (JIS G3141)
Bảo quản Chịu được kho hở một thời gian Phải để kho khô, bọc kín
Giá theo kg Thấp hơn Cao hơn

Cuộn cán nóng trong nước có độ dày từ 1,2 mm, nên tấm dưới 1,2 mm gần như chắc chắn là cán nguội. Từ 1,2 đến 3 mm thì cả hai loại đều có. Giá theo độ dày của tấm cán nguội có ở trang thép tấm cán nguội theo độ dày.

Cán nguội không phải lúc nào cũng cứng hơn

Hay nghe nói thép cán nguội cứng và bền hơn cán nóng. Điều này chỉ đúng với cuộn full hard chưa ủ, loại thường làm nền cho tôn mạ với mác cường độ cao như G550 (giới hạn chảy 550 MPa theo AS 1397). Thép cán nguội bán ra để dập, chấn đã được ủ mềm: SPCC khi yêu cầu bảo đảm cơ tính chỉ cần giới hạn bền kéo tối thiểu 270 MPa, còn tấm cán nóng SS400 có giới hạn bền 400 đến 510 MPa, giới hạn chảy 245 MPa với tấm đến 16 mm. Chi tiết chịu lực vì thế vẫn dùng thép cán nóng mác kết cấu, xem bài cơ tính thép SS400 theo độ dày.

5. Thép xây dựng là thép cán nóng hay cán nguội

Thép cây vằn và thép cuộn xây dựng trong nước phần lớn là cán nóng: phôi vuông được nung rồi cán liên tục ra thanh có gân. TCVN 1651-2:2018 về thép thanh vằn để nhà sản xuất tự chọn công nghệ, nhưng có quy định riêng cho mẫu thử của thanh cán nguội: phải hóa già (nung mẫu lên 100 độ C, giữ 1 giờ) trước khi thử kéo, còn thanh cán nóng thử ở trạng thái giao hàng. Cách đọc mác CB300, CB400 trên cây thép có ở bài ký hiệu mác thép thanh vằn.

6. Đừng nhầm cán nguội với tạo hình nguội

Ngoài công trường, “thép cán nguội” còn được dùng để gọi xà gồ C, Z, thép U dập, thép hộp. Các sản phẩm này là tạo hình nguội: băng thép được uốn qua dàn con lăn thành tiết diện, chiều dày không đổi. Băng đầu vào có thể là cán nóng hoặc cán nguội:

  • Hộp đen, ống đen, xà gồ đen: cỡ dày tạo hình từ băng cán nóng, cỡ dưới 1,2 mm thì từ băng cán nguội.
  • Hộp mạ kẽm, xà gồ mạ kẽm: tạo hình từ tôn mạ, mà nền tôn mạ là thép cán nguội.
  • Thép hình H, I, U, V cỡ lớn: cán nóng trực tiếp từ phôi thành tiết diện.

Báo giá ghi “xà gồ cán nguội” thì hiểu là tạo hình nguội, cần hỏi thêm nền thép đen hay mạ, mác thép và lớp mạ, xem trang xà gồ C và quy cách. Hộp đen làm từ băng thép gì có ở bài thép hộp đen làm từ thép gì.

7. Cách phân biệt thép cán nóng và cán nguội khi nhìn hàng

  • Bề mặt: cán nóng có vảy xanh đen, cạo thấy vảy bong. Cán nguội xám sáng, mịn, có dầu.
  • Độ dày: dưới 1,2 mm là cán nguội. Từ 3 mm trở lên gần như toàn là cán nóng.
  • Mép: cuộn cán nóng không xén biên có mép hơi tròn, gợn. Cán nguội thường xén biên thẳng, sắc.
  • Nhãn, chứng chỉ: SPHC, SPHD, SS400 là cán nóng. SPCC, SPCD, SPCE, DC01 là cán nguội.
  • Dễ nhầm nhất: thép cán nóng đã tẩy gỉ, ký hiệu kiểu SPHC-PO (pickled and oiled). Không còn vảy, màu xám, có dầu, nhìn giống cán nguội. Phân biệt bằng mác trên nhãn, độ mịn và giá.

8. Nên chọn thép cán nóng hay cán nguội

  • Chi tiết chịu lực, dày từ 3 mm: bản mã, bản đế, dầm tổ hợp, khung máy. Chọn cán nóng mác kết cấu SS400, Q235B, A36.
  • Chi tiết mỏng, cần đẹp, sơn tĩnh điện: vỏ tủ, đồ nội thất kim loại, vỏ thiết bị. Chọn SPCC, dập sâu thì SPCD, SPCE.
  • Để ngoài trời: cả hai đều gỉ nếu không sơn, mạ. Cần chống gỉ sẵn thì chọn thép mạ, xem bài thép mạ kẽm và các loại lớp mạ.
  • Cần mỏng mà chịu lực: thép full hard hoặc tôn mạ G550 cho tôn lợp, xà gồ mạ, khung kèo thép nhẹ. Loại này không dập sâu được.

9. Câu hỏi thường gặp

Thép cán nóng và cán nguội loại nào tốt hơn?

Không có loại tốt hơn chung. Cán nóng hợp kết cấu dày, chịu lực, giá rẻ. Cán nguội hợp chi tiết mỏng, cần chính xác và bề mặt đẹp.

Vì sao thép cán nguội đắt hơn?

Vì làm từ thép cán nóng rồi đi thêm tẩy gỉ, cán nhiều lượt, ủ, cán là, phủ dầu. Mỗi bước tốn điện, axit, thời gian và hao hụt.

Thép HRC là gì?

HRC là hot rolled coil, tức thép cuộn cán nóng, nguyên liệu để cắt tấm, xả băng làm ống, hộp và là đầu vào của dây chuyền cán nguội.

Thép cán nguội có hàn được không?

Có. SPCC là thép cacbon thấp, hàn tốt. Tấm mỏng nên hàn điểm, MIG hoặc TIG dòng nhỏ để không thủng, cong vênh, và lau dầu trước khi hàn.

Kết luận

Thép cán nóng rẻ hơn, dày hơn, hợp với kết cấu chịu lực. Thép cán nguội mỏng, phẳng, mịn, hợp với chi tiết cần đẹp và chính xác, nhưng đã ủ thì mềm hơn SS400 chứ không cứng hơn. Khi hỏi giá, ghi rõ mác (SS400, SPHC hay SPCC), độ dày, khổ và bề mặt để báo giá so được với nhau. Cần báo giá thép tấm cán nóng, cán nguội theo quy cách, gọi Giá Thép Hôm Nay qua hotline 0906 341 094.